20 Th2, 2024

Sự uy nghiêm của Đức Chúa Trời làm chủ cuộc đời của ông

John Calvin (1509–1564)
Sự Uy Nghiêm Của Đức Chúa Trời Làm Chủ cuộc đời Của Ông
Image

Góc nhìn của Desiring God
Tài liệu Cơ Đốc cho người Việt

21 phút

Năm 1538, Đức Hồng Y người Ý tên là Sadolet đã viết thư cho các lãnh đạo của Geneva để thuyết phục họ quay lại với Hội thánh Công giáo La Mã sau khi họ đã chuyển sang những tín lý Cải Chánh. Phản ứng của John Calvin đối với Sadolet mở ra một cuộc tranh cãi diễn ra giữa ông và La Mã đã quyết định cuộc đời của Calvin.

Đây là những điều Calvin đã viết cho giáo chủ hồng y: “Sự sốt sắng [của ông] về sự sống đời đời [là] sự sốt sắng làm cho một người hoàn toàn tận tụy với chính mình, mà không hề, ngay cả bằng lời lẽ, khiến người tôn vinh danh của Đức Chúa Trời” (John Calvin: Tuyển tập trích dẫn từ các bài viết của ông, trang 89). Trước tiên, vấn đề của Calvin không phải là những điểm gây tranh cãi nổi tiếng của Phong trào Cải Chánh: sự xưng công bình, lạm dụng chức vụ, sự biến thể, cầu nguyện với thánh đồ và thẩm quyền của giáo hoàng. Tất cả đều sẽ được bàn đến. Nhưng cái cốt lõi trong tất cả, tức là vấn đề căn bản của Calvin, từ đầu đến cuối cuộc đời của ông, là trọng tâm, uy quyền và uy nghiêm của sự vinh hiển Đức Chúa Trời.

Calvin tiếp tục nói với Sadolet rằng những điều ông nên làm – những điều Calvin dự định làm trong cả cuộc đời của mình – là “đặt trước mặt [con người], động cơ tồn tại chủ yếu của loài người, sự sốt sắng bày tỏ sự vinh hiển của Đức Chúa Trời” (Tuyển tập, trang 89). Đây sẽ là một ngọn cờ xuyên suốt cuộc đời và công tác của John Calvin – sự sốt sắng bày tỏ vinh hiển của Đức Chúa Trời. Ý nghĩa tất yếu từ cuộc đời và sự giảng luận của Calvin là ông đã khôi phục và thể hiện niềm say mê về hiện thực và sự uy nghiêm tuyệt đối của Đức Chúa Trời.

Đắm chìm trong sự vinh hiển

Điều gì đã khiến John Calvin phủ phục trước sự uy nghiêm của Đức Chúa Trời? Điều này đã tác động chức vụ của ông như thế nào?

Ông sinh ngày 10 tháng 7 năm 1509 tại thành phố Noyon của nước Pháp, khi Martin Luther được 25 tuổi và mới bắt đầu dạy Kinh Thánh ở Wittenberg. Khi ông được 14 tuổi, cha gửi ông đến trường thần học tại Đại học Paris, lúc bấy giờ vẫn chưa bị ảnh hưởng bởi cuộc Cải Chánh và còn chìm đắm trong thần học Trung Cổ. Nhưng 5 năm sau (khi Calvin được 19 tuổi), cha của ông đã chạy trốn khỏi Hội thánh và dặn con trai hãy nghỉ học thần học để chuyển sang học luật, là điều ông đã làm trong ba năm tiếp theo tại Orleans và Bourges.

Cha ông qua đời vào tháng 5 năm 1531, khi Calvin được 21 tuổi. Calvin đã cảm thấy tự do hơn để từ bỏ trường luật và quay về với tình yêu ban đầu tiên của mình, điều này đã trở thành tác phẩm kinh điển. Ông đã xuất bản quyển sách đầu tay của mình, một chú giải về Seneca, vào năm 1532, khi chỉ mới 23 tuổi. Nhưng trong những năm tháng ấy, ông đã tiếp xúc với sứ điệp và tinh thần của cuộc Cải Chánh, đến năm 1533 đã có một điều kịch tính xảy ra trong cuộc đời của ông.

Calvin kể lại chuyện bảy năm sau đó ông đã cải đạo như thế nào. Ông đã mô tả cách mình đấu tranh để giữ vững đức tin Công giáo bằng sự sốt sắng khi

Tôi cũng đã nhận thức được, giống như ánh sáng chiếu vào mình, sai lầm và mình đã sống cách ô nhơ và bất khiết như thế nào. Vô cùng hoảng hốt trước sự khốn khổ của mình . . . giống như bị ràng buộc bởi trách nhiệm, [tôi] đã thực hiện công việc đầu tiên của mình là chạy đến với Chúa [Ôi, Đức Chúa Trời], tự trách quá khứ của mình bằng nước mắt và sự rên xiết.

Đức Chúa Trời, bằng sự cải đạo cách bất ngờ, đã bắt phục và đem tâm trí của tôi đến chỗ học hỏi . . . Do đó, tôi đã nếm biết Đức Chúa Trời và hiểu biết sự tin kính thật, tôi lập tức bị thôi thúc bởi [một] khao khát mãnh liệt muốn được tăng trưởng. (Tuyển tập, trang 26)

Calvin đã có niềm tin như thế nào để sống một cuộc đời tận hiến bày tỏ sự vinh hiển và sự uy nghiêm của Đức Chúa Trời? Câu trả lời như Calvin đã nói là ông lập tức nhìn thấy và nếm biết sự uy nghiêm của Đức Chúa Trời từ Lời Chúa. Trong lúc đó, cả Đức Chúa Trời và Lời Chúa đều làm chứng cho linh hồn của ông cách mạnh mẽ và chắc chắn đến nỗi ông đã trở thành một tôi tớ yêu kính Chúa và Kinh Thánh  trong cả cuộc đời. Kể từ đó, ông đã trở thành một người sống tận hiến bày tỏ sự uy nghiêm của Đức Chúa Trời qua việc giảng giải lời của Đức Chúa Trời.

Buộc phải đến Geneva

Chức vụ đó trông như thế nào? Calvin biết mình muốn gì. Ông muốn tận hưởng sự thoải mái trong văn học để có thể thúc đẩy niềm tin Cải Chánh với tư cách là một học giả văn học. Đó là những gì ông tưởng mình sinh ra để làm. Nhưng Đức Chúa Trời có những kế hoạch khác.

Năm 1536, Calvin rời Pháp, mang theo anh trai Antoine và em gái Marie. Ông dự định đến Strasbourg và dành hết cuộc đời để sáng tác văn học trong yên bình. Nhưng một đêm nọ, khi Calvin đang ở Geneva, một lãnh đạo sôi nổi của cuộc Cải Chánh trong thành phố là William Farel phát hiện và đi tìm ông. Cuộc gặp gỡ đó đã thay đổi dòng lịch sử, không chỉ đối với Geneva, mà còn đối với cả thế giới nữa. Calvin cho chúng ta biết những điều đã xảy ra qua lời nói đầu của ông trong quyển chú giải Thi thiên rằng:

Farel là một người có lòng nhiệt thành cách phi thường để lan truyền Phúc Âm, ngay lập tức biết rằng tấm lòng của tôi đã quyết cống hiến cho sự nghiên cứu, thế nên tôi đã giữ mình khỏi theo đuổi những mục đích khác, và thấy mình chẳng đạt được gì nếu không nài xin tôi, ông ta nói rằng Đức Chúa Trời sẽ nguyền rủa việc nghỉ hưu của tôi và sự yên tĩnh mà tôi cần để nghiên cứu, nếu tôi rút lui và từ chối giúp đỡ khi mọi việc đang rất là cấp bách. Chính sự bất kính này, tôi đã kinh hoàng đến nỗi từ bỏ hành trình của mình. (Tuyển tập, trang 28)

Cuộc đời của ông đã thay đổi hoàn toàn. Không chỉ về địa lý, mà còn cả nghề nghiệp nữa. Calvin sẽ không bao giờ làm việc trong cái chỗ “yên tĩnh để nghiên cứu” nữa đâu. Từ nay trở đi, mỗi trang trong 48 quyển sách, các bài tiểu luận, những bài giảng, các chú giải và thư từ mà ông đã viết sẽ được nhấn mạnh vào trách nhiệm của vai trò mục sư.

Giảng giải Kinh không ngừng nghỉ

Một lần nọ ở Geneva, sự tận hiến của ông đối với sự uy nghiêm của Đức Chúa Trời đã tạo ra một chức vụ như thế nào? Điều đó đã phần nào tạo ra một chức vụ kiên định đáng kinh ngạc – một chức vụ mà Calvin đã mô tả về những người hầu việc Chúa cách trung tín là “bền đỗ không ngừng” (Những bài giảng từ sách Gióp, trang 245). Nhưng đó mới là một nửa câu trả lời mà thôi. Sự bền đỗ này có một sự tập chúa: sự giảng giải lời của Đức Chúa Trời không ngừng nghỉ.

Calvin đã nhìn thấy sự uy nghiêm của Đức Chúa Trời trong Kinh Thánh. Điều này thuyết phục ông rằng Kinh Thánh chính là lời của Đức Chúa Trời. Ông nói: “Chúng ta nợ Kinh Thánh cùng một sự tôn kính mà chúng ta đang nợ Đức Chúa Trời, vì Kinh Thánh chỉ đến từ Chúa mà thôi, loài người không lẫn lộn vào Kinh Thánh chi được” (John Calvin: Một tuyển tập các bài tiểu luận xuất sắc, trang 162). Chính kinh nghiệm đã cho ông biết rằng: “Bằng chứng lớn nhất của Kinh Thánh xuất phát từ thực tế đó là Đức Chúa Trời phán” (Những Cột trụ Cơ Đốc giáo, 1.7.4). Những chân lý này đã dẫn đến một kết luận không thể tránh khỏi đối với Calvin. Vì Kinh Thánh chính là tiếng phán của Đức Chúa Trời, nên Kinh Thánh tự bày tỏ sự uy nghiêm của Đức Chúa Trời, mà cũng vì sự uy nghiêm và sự vinh hiển của Đức Chúa Trời là lý do tồn tại của muôn vật, nên cuộc đời của Calvin đã được đánh dấu bằng “sự bền đỗ không ngừng” trong việc giảng giải Kinh.

Ông đã viết các bài tiểu luận, ông đã viết quyển Những Cột trụ, ông đã viết các chú giải (tất cả sách trong Tân Ước ngoại trừ Khải Huyền, cộng với Ngũ Kinh, Thi thiên, Ê-sai, Giê-rê-mi và Giô-suê), ông đã chia sẻ những bài học Kinh Thánh (rất nhiều bài học trong số đó đã được xuất bản thành các tài liệu chú giải), cứ cách hai tuần thì ông chia sẻ mười bài giảng. Nhưng tất cả đều là giảng giải Kinh. Trong di chúc của mình, ông nói rằng: “Tôi đã cố gắng, trong giảng luận cũng như viết lách lẫn chú giải của mình, để rao giảng Lời Chúa cách thuần túy, giải nghĩa Lời Chúa cách trung tín” (Tuyển tập, trang 35).

Đó là một chức vụ đã được hình thành từ khi ông nhìn thấy sự uy nghiêm của Đức Chúa Trời trong Kinh Thánh. Lời Chúa hoàn toàn là trọng tâm vì Kinh Thánh hoàn toàn là lời của Đức Chúa Trời và chính Kinh Thánh tự bày tỏ về sự uy nghiêm và sự vinh hiển của Đức Chúa Trời. Nhưng trong tất cả nỗ lực giảng giải Kinh này, thì sự giảng luận là điều tối thượng.

Tiếng phán của Đức Chúa Trời trong từng câu Kinh Thánh

Sự giảng luận của Calvin là độc nhất từ đầu đến cuối: ông đã rao giảng đều đặn từ sách này đến sách khác trong cả Kinh Thánh. Ông không hề dao động trong sự giảng luận gần 25 năm giữ chức vụ tại Hội thánh St. Peter ở Geneva – ngoại trừ một vài lễ hội lớn và những dịp đặc biệt. “Vào Chúa Nhật, ông luôn giảng trong Tân Ước, ngoại trừ một vài Thi thiên vào các buổi chiều Chúa Nhật. Trong tuần . . . luôn giảng từ Cựu Ước”. 

Để giúp chúng ta biết một vài ý tưởng về phạm vi giảng luận của Calvin, thì ông đã bắt đầu loạt bài của mình từ sách Công vụ vào ngày 25 tháng 8 năm 1549 và kết thúc vào tháng 3 năm 1554. Sau sách Công vụ, ông tiếp tục giảng các thư tín gửi cho người Tê-sa-lô-ni-ca (46 bài giảng), Cô-rinh-tô (186 bài giảng), các thư tín mục sư (86 bài giảng), Ga-la-ti (43 bài giảng), Ê-phê-sô (48 bài giảng) – cho đến tháng 5 năm 1558. Sau đó, có một khoảng nghỉ khi ông bị bệnh. Vào mùa xuân năm 1559, ông bắt đầu giảng về sự hòa hợp của các sách Phúc Âm và chưa thể hoàn thành vì ông đã qua đời vào tháng 5 năm 1564. Vào các ngày trong tuần lúc bấy giờ, ông đã giảng 159 bài giảng về sách Gióp, 200 bài giảng về sách Phục truyền, 353 bài giảng về sách Ê-sai, 123 bài giảng về sách Sáng thế ký . . .

Một trong những minh họa rõ nét nhất về việc đó là sự lựa chọn tự nguyện của Calvin, ấy là vào Phục sinh năm 1538, sau khi giảng luận, ông đã rời khỏi bục giảng của Hội thánh St. Peter vì bị Hội đồng thành phố trục xuất. Ông quay lại vào tháng 9 năm 1541, hơn ba năm sau, và tiếp tục công tác giảng giải Kinh các câu Kinh Thánh tiếp theo.

Sự uy nghiêm của Lời Chúa

Tại sao lại cam kết giảng giải Kinh theo trình tự như vậy? Có ba lý do vẫn còn giá trị từ thế kỷ 16 cho đến ngày nay.

Đầu tiên, Calvin tin rằng lời của Đức Chúa Trời là ngọn đèn đã bị đem đi khỏi các Hội thánh. Ông đã nói trong lời chứng cá nhân của mình rằng: “Lời Chúa đáng lẽ phải chiếu sáng trên hết thảy dân sự của Ngài như một ngọn đèn, đã bị đem đi khỏi, hoặc ít nhất là bị chèn ép”. Calvin cho rằng giảng giải Kinh các sách trong Kinh Thánh cách liên tục là điều tốt nhất để vượt qua “nỗi sợ từ bỏ Lời [của Đức Chúa Trời]” (Tuyển tập, trang 115).

Thứ hai, người viết tiểu sử T.H.L. Parker nói rằng Calvin đã rất sợ những kẻ rao giảng theo ý riêng của họ từ bục giảng. Ông nói rằng: “Khi chúng ta bước lên bục giảng, đó không phải là chỗ để chúng ta chia sẻ những mơ mộng và sở thích riêng của mình” (Chân dung về Calvin, trang 83). Ông tin rằng để giải bày Lời Chúa, ông buộc phải trình bày tất cả mọi điều Đức Chúa Trời đã phán, chứ không chỉ những điều ông thích nói.

Thứ ba, ông hết lòng tin rằng lời của Đức Chúa Trời thực sự là lời của Đức Chúa Trời, tất cả đều được thần cảm để mang lại ích lợi và để bày tỏ ánh sáng vinh hiển của Đức Chúa Trời. Trong Bài giảng số 61 từ sách Phục truyền, ông đã thách thức các mục sư trong thời đại của mình và của chúng ta rằng:

Hãy để cho mục sư mạnh dạn thách thức mọi sự bằng lời của Đức Chúa Trời . . . Hãy để họ bắt ép tất cả quyền lực, vinh quang và sự ưu việt của thế gian để nhường chỗ cho và đầu phục trước sự uy nghiêm của Lời Chúa. Hãy để họ dìu dắt mọi người, từ cao nhất đến thấp nhất, bằng Lời Chúa. Hãy để họ gây dựng thân thể của Đấng Christ. Hãy để họ hủy phá quyền lực của quỷ Sa-tan. Hãy để họ chăn chiên, giết sói, hướng dẫn và khuyên răn những kẻ nổi loạn. Hãy để họ trói buộc và nổi sấm nếu cần, nhưng hãy để họ làm tất cả theo lời của Đức Chúa Trời. (Những bài giảng về Thư tín Ê-phê-sô, trang xii)

Cụm từ then chốt ở đây là “sự uy nghiêm của Lời Chúa”. Đó là vấn đề gốc rễ đối với Calvin. Ông có thể bày tỏ cho mọi người ở Geneva và toàn bộ châu Âu cùng tất cả sự kiện trong lịch sử về sự uy nghiêm của Đức Chúa Trời cách tốt nhất như thế nào? Ông đã trả lời bằng cả cuộc đời liên tục giảng giải Kinh.

Đây là lý do vì sao giảng luận vẫn là một công tác trọng tâm ở trong sinh hoạt của Hội thánh suốt năm trăm năm qua kể từ sau thời kỳ của Calvin. Nếu Đức Chúa Trời là Đấng vĩ đại, tuyệt đối, tối thượng, huyền nhiệm, đầy vinh hiển mà Calvin đã thấy trong Kinh Thánh, thì giảng luận sẽ không bao giờ dừng lại, vì Đức Chúa Trời càng được bày tỏ và Đức Chúa Trời càng là trọng tâm của mọi sự, thì chúng ta càng sẽ thấy rằng mình không thể dừng lại ở chỗ phân tích và giải thích về Ngài được – Chúa phải được tôn cao, được công bố và được tán dương bằng công tác giảng giải Kinh thật vui mừng.

Desiring God bắt đầu từ khi John Piper giao lại toàn bộ mục vụ ghi âm cho Jon Bloom là trợ lý của ông. Từ những băng ghi âm và sách vở, mà mục vụ Desiring God đã phát triển thành một mục vụ trực tuyến quốc tế với hơn 14,000 tài liệu miễn phí và hơn 3,5 triệu lượt truy cập mỗi tháng. Hiện nay, John Piper đang giữ vai trò là giáo sư điều hành mục vụ này.

Chia sẻ với mọi người . . .