24 Th9, 2023

Buổi cầu nguyện một trăm năm

Buổi cầu nguyện một trăm năm
Image

Góc nhìn của Desiring God
Tài liệu Cơ Đốc cho người Việt

17 phút

Trong suốt lịch sử Hội thánh, chúng ta thường thấy các phong trào cầu nguyện, tỉnh thức và truyền giáo tập trung lại với nhau. Đức Chúa Trời dường như rất hài lòng khi sử dụng nỗ lực cầu nguyện để thúc đẩy và duy trì sự tỉnh thức thuộc linh, sau đó sử dụng các kỳ tỉnh thức đó để sai dân sự của Ngài đi khắp các nền văn hóa để chia sẻ Phúc Âm. Tuy nhiên, rất ít câu chuyện chứng minh những liên kết này rõ rệt bằng câu chuyện từ đầu thế kỷ thứ 18, khi một nhóm Cơ Đốc giáo được gọi là người Moravian bắt đầu một buổi cầu nguyện không ngừng nghỉ.

Từ miệng những đứa trẻ

Năm 1648, Hòa ước Westphalia đã chấm dứt Cuộc chiến 30 năm, khi các quốc gia Công giáo và Lutheran đánh nhau để kiểm soát phần còn lại của Đế chế La Mã thiêng liêng. Khi chiến tranh kết thúc, hầu hết các nước nhỏ trong khu vực đã mặc định theo tôn giáo của giới quý tộc ở trong nước của mình. Các quý tộc Công giáo cai trị những vùng đất Công giáo, trong khi các quý tộc Luther kiểm soát các vùng đất Lutheran. Người ta nói rằng tôn giáo của vua là tôn giáo của người dân. Điều này đúng ở mọi nơi ngoại trừ Silesia, bao gồm nhiều nơi của Ba Lan, Đức và Cộng hòa Séc ngày nay. Ở Silesia, triều đại Công giáo Hapsburg cai trị cả Công giáo và Lutheran.

Trong vài thế hệ, gia đình Habsburg đã mở rộng một số quyền tự do tôn giáo cho các thần dân Lutheran, nhưng điều đó bắt đầu thay đổi vào khoảng năm 1700. Để đáp lại những nỗ lực của Hapsburgs nhằm đòi hỏi sự phù hợp với Công giáo, nhiều người Lutheran ở Silesian đã chống đối. Họ đã bị ảnh hưởng bởi phong trào Sùng đạo, trong đó nhấn mạnh thẩm quyền của Kinh Thánh, sự tái sinh, môn đồ hóa và sống bằng đức tin. Năm 1708, trẻ em ở miền nam Silesia bắt đầu tổ chức các buổi nhóm lớn ngoài trời để cầu nguyện và ca hát. Họ gọi những sự kiện này là cắm trại, một thuật ngữ được các nhà Giám lý người Mỹ áp dụng khoảng một thế kỷ sau đó.

Thật kinh ngạc cho đến ngày hôm nay, người Moravia đã tiếp tục chức vụ cầu nguyện ngày đêm của họ trong hơn một thế kỷ.

Sự phục hưng sớm nổ ra, tập trung ở thị trấn Teschen. Ở đó, một kỳ trại đã dẫn đến việc thành lập Hội thánh Jesus, cuối cùng đã thu hút tới mười ngàn tín hữu mỗi tuần và tổ chức các buổi nhóm bằng tiếng Đức, tiếng Ba Lan và tiếng Séc. Dưới sự lãnh đạo của một mục sư Sùng đạo tên là Johann Adam Steinmetz (1689–1762), Hội thánh Jesus đã trở thành một trung tâm truyền bá tinh thần Sùng đạo khắp châu Âu. Các nhà sử học thường nói cuộc Phục hưng Teschen là khởi đầu của sự tỉnh thức xuyên Đại Tây Dương vào thế kỷ 18, sớm lan rộng từ lục địa châu Âu sang thế giới nói tiếng Anh.

Những kẻ mến mộ Steinmetz cũng có Jonathan Edwards (1703–1758) và anh em nhà Wesley, mỗi người trong số họ trao đổi thư từ với ông khi các cuộc phục hưng tương tự nổ ra trong bối cảnh của họ. Một người mến mộ Steinmetz khác là Bá tước Nikolaus Ludwig von Zinzendorf (1700–1760).

Người trai trẻ giàu có

Bá tước Zinzendorf là một người theo chủ nghĩa Sùng đạo, cũng là một thành viên của giới quý tộc Lutheran người Đức. Ông là người được August Hermann Francke (1663-1727) bảo trợ, một nhà thần học của Giáo hội Sùng đạo hàng đầu ở châu Âu. Francke giảng dạy tại Đại học Halle và làm mục sư trong thành phố đó. Dựa vào những hiểu biết sâu sắc của những người theo chủ nghĩa Sùng đạo trước đó, đặc biệt là Philipp Jakob Spener (1635-1705), Francke tin rằng chìa khóa để đổi mới Hội thánh địa phương là thành lập các nhóm nhỏ tập trung vào việc nghiên cứu Kinh Thánh, cầu nguyện và giải trình. Ông cũng là một nhà lãnh đạo kinh doanh, đã thành lập một số tổ chức bao gồm một trại trẻ mồ côi, một bệnh viện, một tờ báo và một nhà in tôn giáo.

Giống như Francke, Zinzendorf cam kết sâu sắc với chủ nghĩa Sùng đạo và xây dựng các trụ sở. Ông cũng là một nhân vật lập dị mắc vài sai sót đáng kể: Zinzendorf có thể nặng tay trong phong cách lãnh đạo của mình, có bằng chứng cho thấy ông không phải là một người chồng chu đáo, ông chấp nhận một vài khuynh hướng thần bí mà một số người Tin lành khác nói là có mùi vị của Công giáo. Nhưng Zinzendorf đã cam kết sâu sắc với công tác làm chứng cá nhân, kỷ luật thuộc linh và truyền giáo toàn cầu. Ba ưu tiên này đã trở thành một phần trong ADN của phong trào mà ông lãnh đạo.

Zinzendorf sở hữu một bất động sản lớn ở Saxony có tên là Herrnhut, ông mở cửa cho người Tin lành bắt đầu di cư từ khắp châu Âu kể từ năm 1722. Herrnhut đã thu hút những người tin Chúa từ Silesia, Bohemia và Moravia, nhiều người trong số họ đã bị ảnh hưởng bởi cuộc Phục hưng Teschen. Nhóm di cư lớn nhất là những người Moravia theo Giáo hội Sùng đạo, những người đã trốn khỏi quê hương của họ sau nhiều nỗ lực buộc họ phải cải đạo sang Công giáo. Năm năm sau, khoảng ba trăm người Moravia sống ở Herrnhut, còn Zinzendorf là lãnh đạo của cộng đồng. Càng ngày, thuật ngữ Moravia càng ít đề cập đến tính cách của người di cư hơn hệ phái mới nổi của Zinzendorf.

Cầu nguyện không thôi

Vào mùa xuân năm 1727, trong một giai đoạn hỗn loạn nội bộ của cộng đồng, một số người Moravia bắt đầu cầu nguyện cho sự phục hưng trong Hội thánh của họ. Vào cuối mùa hè, gần năm mươi người Moravia đã cam kết cầu nguyện một giờ mỗi ngày, lần lượt trong 24 giờ liên tục, bảy ngày một tuần. Sự tỉnh thức tâm linh sớm xảy ra với người Moravia, khiến nhóm nhỏ của họ phát triển và thu hút thêm nhiều người di cư từ khắp châu Âu.

Giống như các sự kiện đã xảy ra trong lịch sử Hội thánh, sự khởi đầu của cuộc phục hưng chỉ làm sâu sắc thêm cam kết của người Moravia vào quyền năng của lời cầu nguyện. Thật kinh ngạc cho đến ngày hôm nay, người Moravia đã tiếp tục chức vụ cầu nguyện ngày đêm của họ trong hơn một thế kỷ. Trên thực tế, sự kiện này đã được gọi là Buổi Cầu Nguyện Một Trăm Năm. Mặc dù không có nhóm Cơ Đốc nào khác được biết là đã lặp lại sự kiện cầu nguyện kéo dài một thế kỷ như người Moravia, nhưng vô số Hội thánh và các mục vụ khác thường được truyền cảm hứng từ tấm gương của người Moravia, họ đã tổ chức các buổi cầu nguyện 24 giờ cho sự phục hưng, truyền giáo hoặc một số ưu tiên khác.

Đánh thức phong trào giáo sĩ

Một kết quả quan trọng của sự cầu nguyện phục hưng là đánh thức phong trào giáo sĩ giữa vòng người Moravia. Vào lúc bấy giờ, hầu như không có người Tin lành nào tham gia vào công tác truyền giáo xuyên văn hóa. Chỉ một số ít đọc Ma-thi-ơ 28:18–20  hoặc Công vụ 1:8, giơ tay lên và đáp lại lời kêu gọi của Đức Chúa Trời để thực hiện công tác môn đồ hóa muôn dân. Người Moravia trở thành mũi giáo cho công tác truyền giáo toàn cầu.

Bắt đầu từ năm 1732, hàng chục nhà truyền giáo của người Moravian đã gần như rời khỏi châu Âu để truyền bá Phúc Âm đến những vùng đất khác. Nhiều cánh đồng truyền giáo ban đầu bao gồm Tây Ấn, đảo Greenland, Thổ Nhĩ Kỳ, Tây Phi, Nam Mỹ và các thuộc địa Georgia và Pennsylvania của Anh quốc. Trong hai khu vực cuối cùng, người Moravia truyền giáo cho người Mỹ bản địa. Bản thân Zinzendorf trở thành một nhà truyền giáo ở Pennsylvania, ông thành lập thành phố Bethlehem tại đó vào năm 1741.

Đến năm 1791, khoảng ba trăm nhà truyền giáo Moravia đã được gửi đi từ Herrnhut. Con số đó tương đương với tổng số người Moravia khi chức vụ cầu nguyện ngày đêm bắt đầu vào năm 1727! Sự kiện đánh thức công tác truyền giáo của người Moravia, mặc dù ít được Cơ Đốc nhân biết đến ngày nay, đã trở thành tiền đề cho một biến cố được gọi là phong trào truyền giáo hiện đại của hai thế hệ.

Di sản giáo sĩ

Các giáo sĩ người Moravia không chỉ truyền bá Tin lành, mà còn truyền bá giáo lý của Giáo hội Sùng đạo về sự tái sinh, giải trình với nhóm nhỏ, truyền giáo và sứ mạng. Những giáo sĩ người Moravia đến Georgia đã đóng một vai trò quan trọng trong sự cải đạo của John Wesley và mục vụ phục hưng sau đó. Sau khi kết nối với người Moravia ở Luân Đôn, anh em nhà Wesley và George Whitefield đã giới thiệu một số giáo lý của Giáo hội Sùng đạo cho phong trào Giám lý mới nổi, kể cả cam kết cầu nguyện cho sự tỉnh thức tâm linh toàn cầu.

Người Moravia trở thành mũi giáo cho công tác truyền giáo toàn cầu.

Một thế hệ sau, một người thợ đóng giày trở thành mục sư Báp-tít tên là William Carey (1761–1834) được biết là cha đẻ của phong trào truyền giáo hiện đại. Năm 1792, Carey xuất bản một luận án có tựa đề là Một nghiên cứu về những nghĩa vụ của Cơ Đốc nhân trong việc sử dụng những công cụ để cải đạo người chưa tin Chúa. Carey lập luận rằng Đại Mạng Lịnh là một mạng lịnh bắt buộc đối với mọi Cơ Đốc nhân trong mọi thế hệ. Luận án của ông đã trở thành bản tuyên ngôn cho công tác truyền giáo toàn cầu giữa vòng người Tin lành nói tiếng Anh.

Carey nhận thức sâu sắc rằng ông đang thực sự đứng trên vai những giáo sĩ trước đó. Trong nghiên cứu của mình, ông đã nêu bật một số nhà tiên phong truyền giáo mà ông tin rằng những người theo đạo Tin lành giống như mình nên noi theo, bao gồm cả người Moravia. Khi Carey giúp thành lập Hội Truyền giáo Báp-tít vào năm 1793 và rời đi vào cuối năm đó để phục vụ với tư cách là một giáo sĩ cho Ấn Độ, ông hiểu rằng mình đang làm những điều mà hàng trăm giáo sĩ người Moravia đã làm trước đó.

Cầu nguyện, phục hưng và truyền giáo

Câu chuyện về người Moravia và di sản của họ nhắc nhở chúng ta rằng lời cầu nguyện, sự phục hưng và công tác truyền giáo thường đan xen vào nhau. Người Moravia đã sốt sắng cầu nguyện cho sự tỉnh thức thuộc linh, còn Đức Chúa Trời đã thành tín đáp lời cầu nguyện đó. Họ cũng cầu nguyện cho các công tác truyền giáo toàn cầu, dưới sự thần hựu của Đức Chúa Trời, Ngài đã kêu gọi hàng trăm người Moravia trở thành câu trả lời cho lời cầu nguyện của chính họ! Người Moravia truyền bá Phúc Âm cho người chưa tin Chúa, truyền bá những giáo lý của Phúc Âm cho người tin Chúa khác và truyền cảm hứng cho các thế hệ Cơ Đốc trong việc vâng phục Đại Mạng Lịnh.

Sự kiện này vẫn có khả năng tái diễn. Đức Chúa Trời vẫn đáp lời cầu nguyện, Ngài hứa rằng “người công bình lấy lòng sốt sắng cầu nguyện, thật có linh nghiệm nhiều” (Gia-cơ 5:16). Đức Chúa Trời vẫn thăm viếng dân sự của Ngài bằng sự tỉnh thức thuộc linh, phục hưng những tấm lòng nguội lạnh và thôi thúc lòng yêu mến đang ngủ quên. Vẫn còn hàng tỷ người trên toàn cầu không biết Đức Chúa Jêsus Christ là Vua và Cứu Chúa của họ. Hãy cùng tôi cầu xin Đức Chúa Trời đánh thức phong trào giáo sĩ mới bằng sự cầu nguyện của dân sự Ngài, vì vinh hiển của Ngài và ích lợi của công tác môn đồ hóa muôn dân.

Desiring God bắt đầu từ khi John Piper giao lại toàn bộ mục vụ ghi âm cho Jon Bloom là trợ lý của ông. Từ những băng ghi âm và sách vở, mà mục vụ Desiring God đã phát triển thành một mục vụ trực tuyến quốc tế với hơn 14,000 tài liệu miễn phí và hơn 3,5 triệu lượt truy cập mỗi tháng. Hiện nay, John Piper đang giữ vai trò là giáo sư điều hành mục vụ này.

Chia sẻ với mọi người . . .